Ca nương là gì người hát chính trong nghệ thuật ca trù truyền thống

Ca nương là gì? Đây là thuật ngữ chỉ người phụ nữ đảm nhận vai trò hát chính và gõ phách trong nghệ thuật ca trù. Họ không chỉ cần chất giọng trong sáng, kỹ thuật điêu luyện mà còn phải am hiểu sâu sắc về âm nhạc và văn chương để truyền tải trọn vẹn giá trị di sản phi vật thể của dân tộc.

Giải đáp kiến thức13 phút đọc
Minh họa: Ca nương là gì người hát chính trong nghệ thuật ca trù truyền thống

Ca nương là gì? Đây là thuật ngữ chỉ người phụ nữ đảm nhận vai trò hát chính và gõ phách trong nghệ thuật ca trù. Họ không chỉ cần chất giọng trong sáng, kỹ thuật điêu luyện mà còn phải am hiểu sâu sắc về âm nhạc và văn chương để truyền tải trọn vẹn giá trị di sản phi vật thể của dân tộc.

Ca trù là gì

Loại hình diễn xướng âm nhạc thính phòng này, vốn thịnh hành từ thế kỷ 15 như một thú vui của tầng lớp quý tộc và trí thức phong kiến, vừa dừng lại ở âm thanh vừa là sự hòa quyện giữa thi ca và nhạc điệu, phản ánh nét giao thoa văn hóa đặc sắc. Một chầu hát truyền thống thường diễn ra trong không gian nhỏ, nơi ba nhân vật chính ngồi trên chiếu vuông: nữ ca sĩ cầm phách giữ nhịp ở vị trí trung tâm, hai bên là người đàn đáy và khách thưởng thức đánh trống chầu.

Sau Cách mạng tháng Tám, nghệ thuật này từng bị biến tướng và gắn liền với các thanh lâu. Mãi đến năm 1980, ca trù mới được phép trở lại sân khấu, dù lúc đầu chỉ phục vụ các đề tài chính trị. Đến ngày 1 tháng 10 năm 2009, UNESCO vinh danh ca trù là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Vùng ảnh hưởng của danh hiệu này trải rộng trên 16 tỉnh thành phía Bắc, sau đó được gom gọn lại thành 10 địa phương gồm Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Bước ngoặt này mở đường cho việc nghiên cứu, bảo tồn và đưa ca trù vào giảng dạy chính thức tại các trường nhạc viện.

Vì sao gọi là ca nương

Danh xưng “ca nương” được dùng để chỉ nữ nghệ sĩ trình diễn chính trong dàn nhạc ca trù, nhằm tôn vinh phẩm chất và tài năng của họ. Tên gọi này hình thành từ việc ghép chữ “ca” – ám chỉ hoạt động hát ca – với “nương”, một từ mang sắc thái nhẹ nhàng, kính trọng để gọi con gái.

Kết hợp lại, nó nhấn mạnh vai trò ca hát của người phụ nữ. Trước đây, các nữ nghệ sĩ thường bị gọi là “ả đào”.

Tuy nhiên, từ “ả” sau đó lại bị quy chụp gắn liền với các nhà trò cung cấp dịch vụ giải trí thiếu lành mạnh, khiến giá trị nghệ thuật bị hạ thấp. Để tránh nhầm lẫn với mại dâm, người ta đã thay đổi thành “cô đào”, rồi biến thể thành “cô đầu”.

Sau khi ca trù được UNESCO công nhận là di sản và khôi phục vị thế, thuật ngữ “ca nương” mới được dùng lại và trở nên phổ biến. Cách gọi này vừa làm rõ vai trò trung tâm của nữ ca sĩ, khẳng định lại sự duyên dáng, tài hoa cùng tính bác học đặc trưng của loại hình nghệ thuật này.

Vai trò và kỹ năng của ca nương

Trong cấu trúc chầu văn, nhân vật nữ giới đảm nhận phần hát chính là yếu tố cốt lõi, giúp dẫn dắt toàn bộ tiết mục. Để đạt được sự công nhận, người nghệ sĩ phải trải qua quy trình rèn luyện khắc nghiệt về thanh nhạc lẫn kỹ thuật biểu diễn.

Chất lượng giọng hát cần hội tụ các tiêu chuẩn thanh, ca, vang, mà còn phải tinh thông kỹ thuật ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ. Những kỹ năng như nảy hạt hay đổ con kiến là bắt buộc nhằm đảm bảo độ ngân vang cùng sự chính xác tuyệt đối.

Song song với năng khiếu ca hát, ca nương cũng phải thành thạo thao tác dùng phách, một loại nhạc cụ chế tác từ gỗ hoặc tre. Họ cần am hiểu tường tận 5 khổ phách cơ bản, thực hiện động tác đánh lưu không sao cho âm thanh phát ra chắc và giòn. Lời ca và tiếng phách phải phối hợp nhịp nhàng với tiếng đàn đáy của kép và tiếng trống chầu.

Bên cạnh tài năng âm nhạc, họ còn cần vốn kiến thức văn chương uyên thâm, khả năng phân tích lời hát sắc sảo cùng phong thái thanh lịch. Tục ngữ không có đào nương bất thành ca trù phản ánh chính xác vị trí then chốt của họ trong nghệ thuật trình diễn. Nếu thiếu đi sự dẫn dắt về giai điệu và tiết tấu từ người hát chính, cả dàn nhạc sẽ mất đi điểm tựa nghệ thuật quan trọng.

Một số tác phẩm nổi tiếng

Thể hát nói, vốn mang đậm chất văn chương, là hình thức biểu diễn thịnh hành nhất trong kho tàng đồ sộ của ca trù. Các thi nhân thời phong kiến thường dùng lối hát này để bày tỏ nỗi lòng và suy tư về cuộc đời.

Nguyễn Khuyến để lại hai tác phẩm là Hỏi phỗng đá cùng Duyên nợ. Nguyễn Công Trứ ghi dấu ấn với những bài như Ngày tháng thanh nhàn, Kiếp nhân sinh và Chơi xuân kẻo hết xuân đi.

Nguyễn Thượng Hiền có sáng tác Chơi chùa Thầy. Dương Khuê viết Hồng Hồng, Tuyết Tuyết. Tản Đà để lại nhiều tác phẩm như Chưa say, Trần ai tri kỷ, Đời đáng chán, Gặp xuân, Xuân tình và Hỏi gió.

Trần Tế Xương viết Hát cô đầu. Cao Bá Quát có các bài Tự tình, Nhân sinh thấm thoắt và Phận hồng nhan có mong manh. Chu Mạnh Trinh sáng tác Hương Sơn phong cảnh ca.

Bên cạnh hát nói, thể loại này còn bảo tồn các làn điệu cổ điển như Tỳ bà hành, do Phan Huy Vịnh diễn Nôm dựa trên cổ bản của Bạch Cư Dị. Các điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai cũng nằm trong hệ thống bài bản đặc trưng. Những tác phẩm ấy vừa là lời ca vừa minh chứng cho sự thăng hoa của thơ ca dân tộc, phản ánh tâm hồn và tư tưởng của các tao nhân, mặc khách qua từng thời kỳ.

Ca nương kiều anh

Ca nương Kiều Anh là người thừa kế truyền thống ca trù từ thế hệ thứ bảy trong gia đình. Hành trình nghệ thuật của cô bắt đầu từ khi 10 tuổi, khi cô biểu diễn tại nhiều quốc gia như Pháp, Đức, Thụy Sĩ và Trung Quốc.

Năm 2013, Kiều Anh lọt vào vị trí á quân trong chương trình Vietnam’s Got Talent. Tiếp đó, cô tham gia cuộc thi The Voice – Giọng hát Việt 2015 và nhận được sự yêu mến từ đông đảo khán giả.

Ngoài thành công trên sân khấu, cô xây dựng cuộc sống gia đình viên mãn. Chồng của Kiều Anh là Văn Quỳnh, một người kinh doanh thành đạt, cháu trai của cố giáo sư Văn Như Cương và là con trai của nhà giáo Văn Thùy Dương.

Cô hiện có hai con trai và chia sẻ tổ ấm hạnh phúc cùng chồng. Kể từ khi làm mẹ, Kiều Anh hầu như rút lui khỏi showbiz để tập trung chăm sóc con cái. Cô hiện là chủ sở hữu kênh TikTok với hơn 400 nghìn người theo dõi.

Trên nền tảng này, cô chia sẻ những video về cuộc sống gia đình, kinh nghiệm làm mẹ bỉm sữa và quá trình nuôi dạy hai con trai. Sự hiện diện của cô trên mạng xã hội giúp lan tỏa hình ảnh nghệ sĩ trẻ gắn bó với di sản, cho thấy xu hướng kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống và môi trường số hiện đại.

Ca trù ngày nay

Mặc dù bị coi là tàn dư phong kiến và tệ nạn xã hội khiến môn nghệ thuật này bị cấm đoán sau năm 1945, nhưng dấu ấn văn hóa vẫn được lưu giữ qua sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự buổi diễn tại Văn Miếu Quốc Tử Giám vào năm 1962. Đến năm 1976, học giả Trần Văn Khê đã tiến hành thu âm các tiết mục của hai ca nương, và bản ghi âm này mới được phát hành rộng rãi hai năm sau đó.

Phải chờ đến thập niên 1980, công chúng mới được thưởng thức loại hình này, dù lúc bấy giờ lời ca thường xuyên mang đậm tính chính trị. Sự hồi sinh thực sự bắt đầu từ khi NSND Quách Thị Hồ cất tiếng hát bài Những mùa xuân trên đài phát thanh, đánh dấu chấm hết cho 30 năm im lặng của tác phẩm kinh điển này.

Sau khi được UNESCO vinh danh là di sản năm 2009, ca trù chuyển sang giai đoạn bảo tồn chính thức với thống kê năm 2010 ghi nhận sự hiện diện của 63 câu lạc bộ tại 15 tỉnh thành.

Các nhóm tiêu biểu bao gồm Ca trù Lỗ Khê, CLB Ca trù Thái Hà và CLB Ca trù Thăng Long tại Hà Nội; đền thờ Nguyễn Công Trứ và Cố Viên Lầu ở Ninh Bình; CLB Nguyễn Công Trứ cùng Cổ Đạm tại Hà Tĩnh; và các nhóm Thanh Khương, Tiểu Than, Đông Tiến ở Bắc Ninh. Cơ cấu biểu diễn cũng đa dạng hơn khi nam kép đàn có thể vừa hát thay thế ca nương, còn nữ nhạc công thì tham gia đệm đàn, xóa bỏ ranh giới giới tính trước đây.

Tuy nhiên, con đường phục dựng vẫn đầy thách thức khi khán giả trẻ khó thấu hiểu những ca từ bác học mang màu sắc chủ nghĩa yếm thế, cộng với việc truyền nghề bị đứt gãy do độ phức tạp của nhạc cụ và không gian biểu diễn bị thu hẹp.

Để thực hiện cam kết quốc tế với UNESCO, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức định kỳ Liên hoan ca trù toàn quốc, khởi điểm từ năm 2005 tại Hà Tĩnh. Giữa bối cảnh ấy, các nghệ sĩ như Quách Thị Hồ, Lê Thị Bạch Vân, Phạm Thị Mùi, Nguyễn Thị Thiệp, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Chúc, Phó Thị Kim Đức vẫn âm thầm duy trì ngọn lửa di sản.

Ai thường nghe nhạc ca nương và ca trù

Trước đây, đối tượng thưởng thức chính của ca trù bao gồm vua chúa, quý tộc và giới trí thức, tạo nên một sân chơi văn hóa đặc thù cho giới thượng lưu. Dưới tác động của các chính sách bảo tồn, môn nghệ thuật này đang được duy trì và đưa vào giảng dạy cho thế hệ trẻ. Sự xuất hiện của nhiều câu lạc bộ tại khu vực Bắc giúp nghệ thuật này tiếp cận đông đảo công chúng hơn, mặc dù nó không còn giữ vị thế độc quyền như trong thời phong kiến.

Chưa có bình luận nào

Để lại bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.

Bài liên quan

Tất cả bài viết